
Đường Lương Hữu Khánh (Đà Nẵng) - nơi có ngôi nhà liên quan vụ tranh chấp - Ảnh: ĐOÀN CƯỜNG
Tòa tuyên hợp đồng vô hiệu
Đáng chú ý, giá chuyển nhượng ghi trong hợp đồng và số tiền thực tế các bên thỏa thuận có sự chênh lệch rất lớn.
Theo hồ sơ, ngôi nhà trên đường Lương Hữu Khánh (Đà Nẵng) có nguồn gốc từ tiền ông H.A.Tr. (trước đây là Việt kiều Mỹ) gửi về nhờ ông N.V.M. mua, làm nhà và đứng tên.
Năm 2009, ông Tr. về ở căn nhà này và chung sống với bà N.T.B.T. nhưng không đăng ký kết hôn.
Ông Tr. và bà T. sau đó thống nhất để ông M. chuyển nhượng nhà đất cho bà T. với giá 1 triệu đồng, để hợp thức hóa giấy tờ, trong khi số tiền này không có thực. Ông Tr. cũng cam kết nếu phát sinh tranh chấp sẽ chịu trách nhiệm.
Còn bà T. cho rằng việc ông Tr. đồng ý chuyển nhượng cho bà là để cấn trừ khoản tiền mà ông Tr. đã nhận. Tuy nhiên, không có chứng cứ chứng minh và ông Tr. không thừa nhận.
Sau khi đứng tên, bà T. bán ngôi nhà cho bà V.T.H. vào năm 2016.
Hợp đồng công chứng thể hiện giá chuyển nhượng 900 triệu đồng. Thế nhưng, giấy đặt cọc giữa hai bên ghi nhận giá thỏa thuận thực tế là 4,8 tỉ đồng và bà H. đã thanh toán đủ.
Tại lần xét xử sơ thẩm mới nhất, TAND TP Đà Nẵng xác định giao dịch giữa bà T. và bà H. vô hiệu.
Theo tòa, bà T. biết nhà đất đang có tranh chấp và đang được tòa giải quyết nhưng vẫn chuyển nhượng.
Trong khi đó, bà H. được xác định là không có lỗi vì nhận chuyển nhượng dựa trên giấy chứng nhận đứng tên bà T., hợp đồng được công chứng, thanh toán đủ tiền và không biết đang tranh chấp.
Kết quả thẩm định giá nhà hơn 29,5 tỉ đồng
Cũng tại tòa, một căn cứ quan trọng để giải quyết hậu quả giao dịch là giá trị tài sản tại thời điểm xét xử.
Theo chứng thư thẩm định giá ngày 14-7-2026, nhà đất trên có giá trị hơn 29,5 tỉ đồng. Phần chênh lệch giữa giá trị tài sản tại thời điểm xét xử và giá trị các bên thỏa thuận là hơn 24,7 tỉ đồng.
Tòa xác định mức độ lỗi của những người liên quan. Bà T. chịu 75%, ông Tr. chịu 20%, công chứng viên phải chịu 5%.
Tuy nhiên, bà H. có đơn không yêu cầu công chứng viên và văn phòng công chứng phải chịu trách nhiệm bồi thường.
Từ đó, tòa tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng giữa bà T. và bà H. vô hiệu, đồng thời buộc ông Tr. và bà T. phải liên đới bồi thường, hoàn trả cho bà H. hơn 28,3 tỉ đồng. Trong đó, bà T. phải bồi thường hơn 23,3 tỉ đồng, ông Tr. trên 4,9 tỉ đồng.
Người bán kháng cáo, đề nghị công nhận giao dịch năm 2016
Sau khi TAND TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm, bà N.T.B.T. đã kháng cáo toàn bộ bản án.
Trong các nội dung kháng cáo, bà T. đề nghị tòa phúc thẩm xem xét giải quyết công nhận hợp đồng chuyển nhượng năm 2016 của bà và bà H., đồng thời công nhận quyền sử dụng, quyền sở hữu cho bà H..
Bà T. cũng đề nghị tuyên vô hiệu các hợp đồng chuyển nhượng giữa ông H.A.Tr. với bà T.T.O. và giữa bà T.T.O. với ông N.P.T. (người mua nhà cuối - PV).
Vụ án đã xét xử nhiều lần
Liên quan vụ án này, năm 2018, TAND TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu của ông Tr. về việc công nhận nhà đất này thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông.
Năm 2019, TAND cấp cao tại Đà Nẵng xử phúc thẩm, bác kháng cáo của ông Tr..
Năm 2020, TAND tối cao kháng nghị. Hội đồng thẩm phán TAND tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm; giao TAND TP Đà Nẵng giải quyết lại.
Năm 2022, TAND TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm lại, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Tr., công nhận ông có quyền sở hữu, sử dụng ngôi nhà.
Bà T. và bà H. kháng cáo bản án sơ thẩm.
Năm 2023, TAND cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm, bác kháng cáo.
Sau khi bản án phúc thẩm có hiệu lực (theo bản án, quyền sở hữu, sử dụng nhà đất thuộc ông Tr.), cuối năm 2023, ông Tr. đã chuyển nhượng nhà cho bà T.T.O.. Năm 2025, bà T.T.O. tiếp tục chuyển nhượng cho ông N.P.T..
Đến năm 2026, TAND tối cao kháng nghị giám đốc thẩm. Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hủy bản án phúc thẩm, sơ thẩm; giao TAND TP Đà Nẵng xét xử lại.
Tại phiên tòa sơ thẩm vừa qua, bà V.T.H. yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng giữa bà và bà N.T.B.T. vô hiệu, đồng thời giải quyết hậu quả của giao dịch.
Tòa xác định ông N.P.T. là người thứ ba ngay tình khi giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản.
Các bên đương sự không có tranh chấp, yêu cầu gì đối với 2 hợp đồng công chứng chuyển nhượng trên nên tòa không xem xét giải quyết.
Mặt khác, giấy chứng nhận đứng tên bà V.T.H. đã không còn giá trị pháp lý nên tòa không xem xét khi giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận